Thống kê
  Đang online: 13
  Lượt truy cập: 2290364
Liên kết website
VIDEO / HÌNH ẢNH










Khoa học công nghệ

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ NĂNG SUẤT LẠNH CỦA HỆ THỐNG TRỮ ĐÔNG LOẠI GHÉP TẦNG, SỬ DỤNG CẶP MÔI CHẤT LẠNH R513A/R744

Lê Vĩnh Nghi, Đặng Thành Trung*, Nguyễn Hữu Quyền, Nguyễn Hay và Nguyễn Hoàng Tuấn

Bộ môn Kỹ thuật Nhiệt – Điện lạnh, Khoa Giao thông và Năng lượng, Trường ĐH Công nghệ    Kỹ thuật TP. HCM

*Corresponding email: trungdang@hcmute.edu.vn

Tóm tắt

Nghiên cứu này được thực hiện trên hệ thống lạnh ghép tầng sử dụng cặp môi chất lạnh R513A/R744 theo phương pháp thực nghiệm. Môi chất lạnh R744 được sử dụng cho chu trình tầng thấp, còn môi chất lạnh R513A được sử dụng cho chu trình tầng cao. Dữ liệu thực nghiệm được thu thập ở nhiệt độ môi trường 32oC. Trong nghiên cứu này, các thông số nhiệt động của các môi chất trong hệ thống lạnh ghép tầng được trình bày chi tiết; nhiệt độ kho lạnh giảm từ 32oC xuống -20oC trong 35 phút. Với môi chất R744 ở chu trình tầng thấp, nhiệt độ ngưng tụ là 5,9oC và nhiệt độ bay hơi là -25oC; năng suất lạnh của hệ thống đạt 1,35 kW và hệ số hiệu quả COP đạt 2. Ngoài ra, các kết quả lý thuyết phù hợp với dữ liệu thực nghiệm, sai lệch nhỏ hơn 10%.

Từ khóa: năng suất lạnh, hệ thống lạnh ghép tầng, R513A/R744, cấp đông, môi chất lạnh.

1. GIỚI THIỆU

Hiện nay, nhiều hệ thống lạnh vẫn sử dụng các môi chất lạnh CFCs (Chlorofluorocarbons) và HCFCs (Hydrochlorofluorocarbons) có chứa nguyên tử Clo. Khi xảy ra rò rỉ, các môi chất lạnh dần khuếch tán lên tầng khí quyển cao, gây hiệu ứng nhà kính và tác động phá hủy tầng ô-dôn của Trái Đất, từ đó làm biến đổi khí hậu toàn cầu. Vì vậy, một số môi chất lạnh ít tác động đến biến đổi khí hậu và thân thiện hơn với môi trường đã được lựa chọn để thay thế các môi chất có chứa Clo trong một số hệ thống lạnh. Với việc sử dụng môi chất lạnh mới R513A, đây cũng là một trong những môi chất không có tiềm năng phá hủy tầng ô-dôn (ODP=0) và có chỉ số làm nóng toàn cầu rất thấp (GWP=573). R513A phù hợp để thay thế R134a với hiệu suất tốt trong các hệ thống mới, mang lại hiệu quả năng lượng cao và tính bền vững về môi trường. Ming và cộng sự [1] đã đánh giá hiệu năng và phân tích mô hình tối ưu của hệ thống lạnh ghép tầng CO2/NH3 với bộ trao đổi nhiệt (BTĐN) ghép tầng dạng màng. Kết quả phân tích nhiệt động của hệ thống cho thấy hệ số hiệu quả (COP) được cải thiện nhờ độ chênh nhiệt nhỏ do bộ trao đổi nhiệt ghép tầng mang lại. Logesh và cộng sự [2] đã phân tích thành công hiệu năng của chu trình lạnh ghép tầng (CRS) với ba cặp môi chất khác nhau: R134a/R23, R410A/R23, R404A/R170 ở độ quá nhiệt 10°C và độ quá lạnh 5°C. Kết quả cho thấy cặp R134a/R170 có COP lớn hơn và lưu lượng khối lượng thấp hơn trong các cặp được nghiên cứu. Tiếp theo, Getu và Bansal [3] đã thực hiện phân tích nhiệt động hệ thống lạnh ghép tầng Carbon dioxide–ammonia (R744/R717) nhằm tối ưu hóa các thông số thiết kế và vận hành của hệ thống. Kết quả cho thấy khi nhiệt độ ngưng tụ tăng, COP giảm và lưu lượng môi chất tăng. Khi nhiệt độ bay hơi tăng, COP của hệ thống tăng và lưu lượng giảm. Khi độ quá nhiệt tăng, lưu lượng khối lượng tăng nhưng COP giảm; khi nhiệt độ bay hơi tăng, cả lưu lượng khối lượng và COP đều tăng. Độ chênh nhiệt trong BTĐN ghép tầng tăng làm giảm lưu lượng khối lượng và COP của hệ thống. Gautam và cộng sự [4] đã thực hiện nghiên cứu phân tích từ chu trình dưới tới hạn đến trên tới hạn cho thiết bị bay hơi có nhiệt độ từ -5°C đến 15°C. Đối với chu trình dưới tới hạn, nhiệt độ thiết bị ngưng tụ và thiết bị bay hơi lần lượt trong khoảng 65°C đến 91°C và 20°C đến 30°C; đối với chu trình trên tới hạn, thiết bị ngưng tụ và thiết bị bay hơi lần lượt thay đổi từ 90°C đến 120°C và 35°C đến 40°C. COP cực đại và năng suất lạnh riêng đạt được khi kết hợp thu hồi nhiệt và khối lượng cho chu trình cơ sở là 0,305 và 105 kJ/kg. Trong chu trình dưới tới hạn, hiệu quả COP tăng từ 38% đến 77%, trong khi ở chu trình trên tới hạn khoảng 17% đến 75%. Đối với hệ thống bơm nhiệt CO2/R32, Sun và cộng sự [5] đã thực hiện nghiên cứu đánh giá hiệu suất làm lạnh và hiệu suất sưởi, cũng như điều kiện vận hành máy nén của hệ thống bơm nhiệt nước CO2/R32. Kết quả cho thấy hiệu quả sưởi (COPh) và hiệu quả làm lạnh (COPc) được cải thiện; công suất gia nhiệt, năng suất lạnh và áp suất đầu đẩy của máy nén CO2/R32 giảm đáng kể, với mức cải thiện lên đến 23,3% và 65,2%.

Về so sánh hiệu năng của hệ thống lạnh ghép tầng với hệ thống lạnh hai cấp sử dụng HFC, Messineo [6] đã đánh giá hiệu năng của hệ thống lạnh ghép tầng R744/R717 so với hệ thống lạnh hai cấp dùng HFC. Kết quả cho thấy hệ thống lạnh ghép tầng là phương án thay thế tốt xét về năng lượng, an toàn và môi trường so với hệ thống lạnh hai cấp R404A trong dải nhiệt độ bay hơi thấp (-30°C ÷ -50°C) đối với lĩnh vực lạnh thương mại. Zhang và cộng sự [7] đã đánh giá lý thuyết hiệu quả của bộ trao đổi nhiệt trong đối với chu trình lạnh CO2 tới hạn sử dụng ejector. Kết quả cho thấy hệ số hút và hiệu suất ejector tăng, còn áp suất hồi phục giảm trong cùng điều kiện áp suất khí làm mát. Manjili và cộng sự [8] sử dụng phần mềm Engineering Equation Solver (EES) để phân tích nhiệt động và exergy chu trình lạnh CO2 trên tới hạn hai cấp sử dụng hai ejector; quá trình nén hơi được thực hiện qua hai cấp, mỗi nhánh nén hơi gồm một ejector riêng. Kết quả cho thấy COP cải thiện 20% - 80% so với chu trình thông thường. Liu và cộng sự [9] đã phân tích nhiệt động chu trình lạnh CO2 trên tới hạn tích hợp bộ quá lạnh nhiệt điện và ejector để so sánh với hai chu trình CO2 trên tới hạn độc lập: (1) có bộ quá lạnh nhiệt điện và (2) có ejector. Kết quả chỉ ra hiệu suất làm lạnh cực đại đạt được đối với chu trình tích hợp khi tối ưu đồng thời nhiệt độ nguồn lạnh và áp suất đẩy. Hiệu suất của chu trình tích hợp tăng 39,34%, tương ứng với mức giảm áp suất đẩy 8,01% trong điều kiện vận hành có nhiệt độ bay hơi 5°C và nhiệt độ môi trường làm mát 40°C. Nakagawa và cộng sự [10] đã phân tích thực nghiệm ảnh hưởng của bộ trao đổi nhiệt trong đối với chu trình lạnh CO2 trên tới hạn có ejector hai pha và so sánh với hệ thống lạnh thông thường. Thí nghiệm được thực hiện ở các áp suất và nhiệt độ vận hành khác nhau cho ba trường hợp: không có bộ trao đổi nhiệt trong, bộ trao đổi nhiệt trong dài 30 cm và bộ trao đổi nhiệt trong dài 60 cm. Kết quả cho thấy hệ thống ejector với bộ trao đổi nhiệt trong dài 60 cm có mức tăng COP lớn nhất, đạt 27% so với hệ thống thông thường. Dang và cộng sự [11] đã nghiên cứu COP của hệ thống điều hòa không khí CO2 với thiết bị bay hơi kênh mini sử dụng quá trình quá lạnh. Khi không có quá trình quá lạnh, COP xấp xỉ 1,59, thấp hơn hệ thống điều hòa không khí thông thường. Khi có quá trình quá lạnh, COP đạt 4,97 tại áp suất bộ làm mát khí 77 bar và nhiệt độ bay hơi 15°C, cao hơn các kết quả đã công bố khác. Nguyen và Dang [12] nghiên cứu ảnh hưởng của lưu lượng khối lượng đến hiệu năng của thiết bị bay hơi kênh vi mô sử dụng môi chất lạnh CO2. Hệ thống điều hòa không khí CO2 vận hành ở nhiệt độ môi trường 30,50C. Khi lưu lượng khối lượng tăng từ 109,6 lên 116,2 kg/h, COP tăng nhẹ từ 4,2 lên 5,15; khi lưu lượng tăng lên 117,4 và 121,4 kg/h, COP tăng đáng kể từ 5,45 lên 7,9. Ngoài ra, khi nhiệt độ ra của bộ làm mát khí tăng từ 32,3 lên 36,5°C, COP giảm mạnh từ 7,9 xuống 4,2. Nguyen và cộng sự [13] đã thực nghiệm hệ thống điều hòa không khí với bộ trao đổi nhiệt bằng đồng. Trong nghiên cứu này, máy nén và bộ làm mát khí được thử nghiệm bằng phương pháp thủy lực để xác định khả năng chịu biến dạng. Kết quả cho thấy máy nén thông thường không phù hợp cho ứng dụng áp suất cao do COP của chu trình rất thấp (chỉ 0,5). Với máy nén CO2, chu trình có thể đạt COP 3,07 tại nhiệt độ bay hơi 10°C. Giá trị này tương đương COP của hệ thống điều hòa không khí thương mại hiện nay. Dang và cộng sự [14] đã nghiên cứu thực nghiệm hệ thống lạnh ghép tầng sử dụng cặp môi chất R134a/CO2. Với tầng thấp CO2 có nhiệt độ ngưng tụ 7,9°C và nhiệt độ bay hơi -30°C, năng suất lạnh của hệ thống đạt 1,62 kW và hệ số hiệu quả của hệ thống là 1,9. Ngoài ra, kết quả lý thuyết phù hợp tốt với kết quả thực nghiệm; sai số nhỏ hơn 10%. Bên cạnh đó, Dang và cộng sự [15] đã thực nghiệm đặc tính truyền nhiệt của bộ trao đổi nhiệt ống lồng ống trong hệ thống lạnh ghép tầng sử dụng cặp môi chất R32/CO2. Kết quả thu được từ dữ liệu thực nghiệm phù hợp tốt với tính toán lý thuyết. Các kết quả này có ý nghĩa quan trọng trong tính toán và thiết kế bộ trao đổi nhiệt ghép tầng sử dụng CO2.

Qua các nghiên cứu trên, có thể thấy các thông số nhiệt động cho hệ thống lạnh ghép tầng R513A/R744 hiện còn khá hạn chế và chưa được nghiên cứu nhiều. Do đó, việc thực hiện nghiên cứu phù hợp cho hệ thống này là cần thiết. Trong nghiên cứu này, năng suất lạnh của hệ thống thiết kế khoảng 1,5 kW, nhiệt độ bay hơi của môi chất R744 là -25°C và nhiệt độ buồng lạnh là -20°C.

2. PHƯƠNG PHÁP LUẬN

2.1. Các phương trình chi phối

      Để phân tích các thông số nhiệt động của hệ thống lạnh ghép tầng R513A/R744 và hệ số hiệu quả của hệ thống (COP), các phương trình cơ bản cho chu trình tầng thấp và chu trình tầng cao được trình bày như sau:

Đối với tầng thấp sử dụng môi chất lạnh R744

Năng suất lạnh của thiết bị bay hơi được tính như sau:

Q0(R744) = m1 × (h1 – h4)                                                               (1)

trong đó m1 là lưu lượng khối lượng CO2 ở tầng thấp và h là entanpi.

Công nén đẳng entropy được tính bằng:

N (R744) = m1 × (h2 – h1’)                                                               (2)

Công suất nhiệt của bộ trao đổi nhiệt ghép tầng (thiết bị ngưng tụ – bay hơi ghép tầng) được tính như sau:

QK (R744) = m1 × (h2 – h3)                                                              (3)

COP của chu trình CO2 được xác định bởi:

                                                                      (4)

trong đó N là công nén đẳng entropy và Q là năng suất lạnh.

Đối với tầng cao sử dụng môi chất lạnh R513A

Năng suất lạnh của thiết bị bay hơi được tính như sau:

Q0(R513A) = QK (R744)                                                                                                             (5)

Lưu lượng khối lượng của R513A ở tầng cao:

                                                                                        (6)

Công nén đẳng entropy được xác định bởi:

N(R513A) = m2 × (h2 – h1’)                                                                    (7)

Công suất nhiệt của bình ngưng R513A được tính như sau:

  QK (R513A) = m2 × (h2 – h3’)                                                                  (8)

Hệ số hiệu quả của chu trình R513A được xác định bởi:

                                                                   (9)

Cuối cùng, hệ số hiệu quả của hệ thống lạnh ghép tầng R513A/R744 là:

                                                           (10)

2.2. Thiết lập thực nghiệm

Sơ đồ thí nghiệm của hệ thống lạnh ghép tầng R513A/R744 được trình bày trong Hình 1. Trong nghiên cứu này, môi chất lạnh R513A được sử dụng cho chu trình tầng cao và môi chất lạnh R744 được sử dụng cho chu trình tầng thấp; hệ thống được vận hành để thu thập các thông số nhiệt động như nhiệt độ và áp suất của cả R513A và R744. Nhiệt độ bay hơi của R513A thay đổi từ 0,8 đến 2oC, trong khi nhiệt độ bay hơi của R744 được giữ ở -25oC. Hệ thống sử dụng bộ trao đổi nhiệt dạng tấm hàn (Hình 2). Ngoài ra, thời gian để đạt nhiệt độ kho lạnh (-20oC) xấp xỉ 35 phút.

Hình 1. Sơ đồ nguyên lý và vị trí thiết bị đo trong hệ thống lạnh ghép tầng R513A/R744

(1 – Máy nén R744, 2 – Bộ trao đổi nhiệt ghép tầng (dạng tấm hàn), 3 – Van tiết lưu R744, 4 – Thiết bị bay hơi R744, 5 – Máy nén R513A, 6 – Bình ngưng R513A, 7 – Van tiết lưu R513A, 8 – Lưu lượng kế nhiệt.)

Hình 2. Hình ảnh hệ thống lạnh ghép tầng R513A/R744

         Độ chính xác và dải đo của các thiết bị đo được trình bày trong Bảng 1. Các thiết bị sử dụng cho thí nghiệm được liệt kê như sau:

- Cặp nhiệt điện loại T, do hang Omega sản xuất

- Bộ điều khiển nhiệt độ EW – 181 H, do Ewelly sản xuất

- Nhiệt kế hồng ngoại AT 430L2, do APECH sản xuất

- Nhiệt kế hồng ngoại Raynger@ST, do Raytek sản xuất

- Đồng hồ đo áp suất, do Pro – Instrument sản xuất

- Cảm biến áp suất, do SENSYS, Hàn Quốc sản xuất

- Lưu lượng kế nhiệt, do JUJIE TECH sản xuất

- Lưu lượng kế tuabin, do Digital Flow, Hàn Quốc sản xuất.

- Máy đo vận tốc gió AVM-03, do Prova sản xuất

- Máy đo vận tốc gió AN100, do Extech sản xuất

- Ampe kìm Kyoritsu 2017, do Kyoritsu sản xuất.

Bảng 1. Độ chính xác và dải đo của các thiết bị thử nghiệm

Thiết bị đo

Độ chính xác

Khoảng đo

Cặp nhiệt điện

± 0,1 °C

0 ~100 °C

Nhiệt kế hồng ngoại

± 1 °C of reading

- 32 ~ 400 °C

Đồng hồ đo áp suất

± 1 FS

0~100 kgf/cm2

Cảm biến áp suất

± 0,5 FS

0~100 bar

Lưu lượng kế nhiệt

± 1 ~ 2,5 %

0,1 ~ 120 m/s

Lưu lượng kế tuabin

± 0,5 RS

400~5000 l/h

Ampe kìm

± 1,5 % rdg

0 ~ 200 A

Máy đo vận tốc gió

± 3 %

0 ~ 45 m/s

 

3. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

      Hệ thống lạnh ghép tầng được thí nghiệm nhiều lần để thu thập dữ liệu ổn định ở nhiệt độ môi trường khoảng 32ºC. Lưu lượng thể tích của R744 được đo bằng lưu lượng kế nhiệt với giá trị 270 l/h. Kết quả thử nghiệm R744 trong chu trình tầng thấp được trình bày trong Bảng 2. Kết quả thực nghiệm cho thấy độ quá nhiệt của chu trình là 18,5ºC. Dựa trên dữ liệu thực nghiệm, chu trình R744 được thể hiện trong Hình 3 bằng phần mềm EES (Engineering Equation Solver).

Bảng 2. Dữ liệu thực nghiệm của R744 trong chu trình tầng thấp

Điểm trạng thái

t
(0C)

p
(bar)

h
(kJ/kg)

1

-26

16,75

437,06

1’

-6,5

16,75

433,89

2

62

36,65

501,65

3

5,8

36,65

215,08

3’

3,4

36,65

208,82

4

-26

16,75

208,82

Hình 3. Đồ thị p-h của R744 trong chu trình tầng thấp

      Đối với chu trình tầng cao R513A, kết quả thực nghiệm được trình bày trong Bảng 3 và Hình 4. Độ chênh nhiệt giữa nhiệt độ bay hơi tầng cao và nhiệt độ ngưng tụ tầng thấp trong bộ trao đổi nhiệt ghép tầng khoảng 3ºC. Kết quả thực nghiệm của R513A và R744 cho thấy tại áp suất bão hòa, nhiệt độ thực nghiệm có sai khác so với giá trị nhiệt độ lý thuyết; sự sai khác này là do sai số thực nghiệm. Tuy nhiên, kết quả thực nghiệm phù hợp tốt với kết quả lý thuyết, với sai số nhỏ hơn 10%.

Bảng 3. Dữ liệu thực nghiệm của R513A trong chu trình tầng cao

Hình ảnh 4. Đồ thị p-h của R513A trong chu trình tầng cao

 

Hình ảnh 5. Nhiệt độ đẩy theo nhiệt độ ngưng tụ của R744

Dữ liệu thực nghiệm được nghiên cứu khi nhiệt độ bay hơi của R513A trong chu trình tầng cao thay đổi từ 0,8 đến 4,3ºC, còn nhiệt độ bay hơi của R744 trong chu trình tầng thấp được giữ không đổi ở -25ºC. Mối quan hệ giữa nhiệt độ đẩy và nhiệt độ ngưng tụ của R744 được thể hiện trong Hình 5. Có thể nhận thấy nhiệt độ bay hơi của R513A ảnh hưởng đến nhiệt độ ngưng tụ và nhiệt độ đầu đẩy của R744. Khi nhiệt độ bay hơi của R513A giảm từ 4,3 xuống 0,8ºC, nhiệt độ ngưng tụ của R744 giảm từ 6,3 xuống 5,85ºC và nhiệt độ đầu đẩy của R744 cũng giảm từ 66,5 xuống 62ºC.

Hình 6. Năng suất lạnh theo nhiệt độ ngưng tụ của R744

Hình 7. COP theo nhiệt độ ngưng tụ của R744

Hình 6 thể hiện mối quan hệ giữa năng suất lạnh và nhiệt độ ngưng tụ của R744 trong chu trình tầng thấp khi nhiệt độ bay hơi của R513A thay đổi. Khi nhiệt độ ngưng tụ của R744 tăng từ 5,8 lên 6,3ºC, nhiệt độ bay hơi của R513A cũng tăng từ 0,8 lên 4,3ºC, năng suất lạnh giảm từ 1,35 xuống 1,13 kW. Tương tự, COP của hệ thống lạnh ghép tầng được thể hiện trong Hình 7. Khi nhiệt độ ngưng tụ của R744 tăng từ 5,8 lên 6,3ºC, COP giảm từ 2,01 xuống 1,96.

4. KẾT LUẬN

Nghiên cứu này đã thực nghiệm hệ thống lạnh ghép tầng sử dụng cặp môi chất lạnh R513A/R744. Môi chất lạnh R513A được sử dụng cho chu trình tầng cao và môi chất lạnh R744 được sử dụng cho chu trình tầng thấp.

Dữ liệu thực nghiệm được thu thập ở cùng nhiệt độ môi trường 32oC. Trong nghiên cứu này, nhiệt độ buồng lạnh giảm từ 32oC xuống -20oC trong khoảng thời gian 35 phút. Các thông số nhiệt động của hệ thống lạnh ghép tầng đã được trình bày chi tiết hơn. R744 ở tầng thấp có nhiệt độ ngưng tụ 5,8oC và nhiệt độ bay hơi -25oC. Năng suất lạnh của hệ thống là 1,35 kW và COP của hệ thống là 2.

Ngoài ra, các kết quả lý thuyết phù hợp với kết quả thực nghiệm. Các kết quả này góp phần bổ sung dữ liệu thực nghiệm cần thiết khi nghiên cứu hệ thống lạnh ghép tầng sử dụng môi chất lạnh R744.

LỜI CẢM ƠN

Nhóm tác giả trân trọng cảm ơn sự hỗ trợ cho đề tài số T2024-45 do Trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh (HCM-UTE) tài trợ.

THAM KHẢO

[1] Ming Ma, Jianlin Yu, Xiao Wang. Performance evaluation and optimal configuration analysis of a CO2/NH3cascade refrigeration system with falling filmevaporator–condenser.journalhomepage:www.elsevier.com/locate/enconman, Energy Conversion and Management 79 (2014) 224–231

[2] K.Logesh, S. Baskar, Md Azeemudeen.M, B.Praveen Reddy, Gajavalli Venkata Subba Sai Jayanth. Analysis of Cascade Vapour Refrigeration System with Various Refrigerants. Materials Today: Proceedings 18 (2019), pp. 4659–4664

[3] H.M. Getu, P.K. Bansal, Thermodynamic analysis of an R744–R717 cascade refrigeration system, Department of Mechanical Engineering, International Journal of Refrigeration 3I (2008)

[4]Gautam, Gyanesh Kumar, Satyabrata Sahoo, Performance improvement and comparisons of CO2 based adsorption cooling system using modified cycles employing various adsorbents: A comprehensive study of subcritical and transcritical cycles, Department of Mechanical Engineering, Indian Institute of Technology (Indian School of Mines), Dhanbad 826004, India

[5] Zhili Sun, Qi Cui, Qifan Wang, Jinghong Ning, Jianghe Guo, Baomin Dai, Yongqiang Liu, Yibo Xu, Experimental study on CO2/R32 blends in a water-to-water heat pump system, Applied Thermal Engineering 162 (2019) 11430

[6] Antonio Messineo, R744-R717 Cascade Refrigeration System: Performance Evaluation compared with a HFC Two-Stage System, Energy Procedia 14 (2012) 56 – 65

[7] Yeqiang Zhang, Yongning He, Yanling Wang, Xuehong Wu, Mingzheng Jia, Yi Gong. Experimental Investigation of the Performance of an R1270/CO2 Cascade Refrigerant System. International Journal of Refrigeration (2020), doi:
https://doi.org/10.1016/j.ijrefrig.2020.02.017

[8] F. Eskandari Manjili, M. Cheraghi. Performance of a new two-stage transcritical CO2 refrigeration cycle with two ejectors. Applied Thermal Engineering, 156 (2019), pp. 402-409.

[9] Xi Liu, Ruansong Fu, Zhiqiang Wang, Li Lin, Zhixin Sun, Xuelai Li. Thermodynamic analysis of transcritical CO2 refrigeration cycle integrated with thermoelectric subcooler and ejector. Energy Conversion and Management, 188 (2019), pp. 354-365

[10] Masafumi Nakagawa, Ariel R. Marasigan, Takanori Matsukawa. Experimental analysis on the effect of internal heat exchanger in transcritical CO2 refrigeration cycle with two-phase ejector. International Journal of Refrigeration, 34 (2011), pp. 1577-1586

[11] Thanhtrung Dang, Chihiep Le, Tronghieu Nguyen, and Minhhung Doan , A Study on the COP of CO2 Air Conditioning System with Minichannel Evaporator Using Subcooling Process, Mechanics, Materials Science & Engineering (MMSE) Journal, Vol. 10, 2017, pp.1-13

[12] Tronghieu Nguyen and Thanhtrung Dang, The Effects of Mass Flow Rate on the Performance of a Microchannel Evaporator Using CO2 Refrigerant, IEEE The proceedings of 2018 4th International Conference on Green Technology and Sustainable Development (GTSD), Hochiminh city, Nov 23-24, 2018, pp. 399-403

[13] Tankhuong Nguyen, Tronghieu Nguyen, Thanhtrung Dang, and Minhhung Doan, An experiment on a CO2 air conditioning system with Copper heat exchangers, International Journal of Advanced Engineering, Management and Science, Vol. 2, 2016, pp. 2058-2063

[14] Thanhtrung Dang and Baoha T. Le, Experimental results of a R134a/CO2 cascade refrigeration system with the CO2 evaporation temperature of -30ºC, International Journal of Innovative Science, Engineering & Technology, Vol. 7 Issue 12, December 2020, pp. 158-165

[15] Thanhtrung Dang, Vanloi Nguyen and Hoangtuan Nguyen, An Experimental on Heat Transfer Characteristics of the Cascade Heat Exchanger in a Refrigeration System Using R32/CO2, The proceedings of 2020 5th International Conference on Green Technology and Sustainable Development (GTSD2020), Hochiminh city, Nov 27-28, 2020, IEEE, pp. 413-417.

 

 

 

Bài viết cùng chuyên mục
Tìm kiếm
Lựa chọn chuyên mục
Hỗ trợ trực tuyến

Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký TS. Nguyễn Xuân Tiên

0243.771.0543

0913212345